So sánh chế định về Chế độ chính trị qua 4 bản Hiến pháp

Thảo luận trong 'Pháp luật Hành chính' bắt đầu bởi tinkerman199, 14 Tháng năm 2009.

  1. tinkerman199 Mèo già

    Đầu tiên nêu chủ đề cho mọi người suy nghĩ, rồi chúng ta cùng thảo luận nhé.

    Đề bài đã có ở trên, anh em nhà vô so sánh hộ mình với

  2. tinkerman199 Mèo già

    Số bài viết:
    2,537
    Đã được thích:
    1,953
    Điểm thành tích:
    113
    Ðề: So sánh chế định về Chế độ chính trị qua 4 bản Hiến pháp

    1. Về toàn vẹn lãnh thổ.

    Đ2 HP 46 nói: nước VN là một khối Trung Nam Bắc ko thể phân chia

    DD1 HP 59 nói: Đất nước Việt Nam là một khối Bắc Nam thống nhất không thể chia cắt.

    DD1 HP 80 nói: Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo.

    DD1 HP 92:Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời.

    Có thể thấy rằng quy định về việc toàn vẹn lãnh thổ được sử dụng biện pháp liệt kê, và tiến bộ dần theo thời gian bởi sự đầy đủ của nó.

    Năm 1946 cần nói rằng khối Trung Nam Bắc vì thời kỳ đó còn tư tưởng chia 3 kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ), tới năm 1959 nói khối Bắc Nam thống nhất nghĩa là đã kéo dài từ Bắc vào Nam (đã bao gồm cả miền Trung), năm 1980 thì nêu đầy đủ hơn bao gồm cả các hải đảo và vùng biển (lúc này đã tranh chấp với Trung Quốc về Hoàng Sa và Trường Sa), cuối cùng là Hiến pháp 1992 thì nội dung tương tự nhưng đưa hải đảo vào cạnh đất liền để khẳng định tính quan trọng của hải đảo.



    2. Về hình thức nhà nước


    HP 46 khẳng định : Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa

    HP 59 khẳng định: Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thành lập và củng cố do thắng lợi mà nhân dân Việt Nam đã giành được trong Cách mạng tháng Tám vẻ vang và Kháng chiến anh dũng, là một nước dân chủ nhân dân.

    HP 80: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước chuyên chính vô sản

    HP 92 sửa đổi: Nhà nước CHXHCNVN là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

    Cái này có thể nhận định là tùy thuộc vào tình hình của xã hội mà quy định, sự tiến bộ ở đây chỉ là tương đối bị chi phối bởi hoàn cảnh kinh tế, nên ko có sự tiến bộ trong lập pháp mà chỉ là sự tiến bộ xã hội.

    Tuy nhiên, có thể nhận định là HP 1980 đã có chút độc đoán trong việc khẳng định nhà nước CHXHCNVN là nhà nước chuyên chính vô sản.

    Hiến pháp 46 quy định rất chung chung, tới Hiến pháp 59 thì mới khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tới HP 80 thì quyền lực thu hẹp lại thuộc về giai cấp vô sản, và tới HP 92 sửa đổi thì lại trở về quyền lực thuộc về nhân dân.


    3. Vấn đề "Đảng lãnh đạo"


    HP 46 và 59 chưa quy định

    HP 80 quy định: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
    Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
    Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp.


    HP 92 quy định: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
    Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

    Hiến pháp 46 và 59 chưa quy định vì hoàn cảnh lịch sử khi nhà nước chưa là nhà nươc xã hội chủ nghĩa mà chỉ là nhà nước cộng hòa nhân dân thì vẫn chấp nhận đa đảng, tuy nhiên tới HP 80 và 92 thì đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng.

    Vai trò của Đảng quy định trong HP 92 đúng đắn hơn khi mà Đảng chỉ là đội ngũ lãnh đạo, còn theo như quy định trong HP 80 thì Đảng đã xen khá nhiều vào công việc của Nhà nước, kèm theo đó là việc quá đề cao Đảng lãnh đạo một cách không cần thiết.


    4. Vấn đề chính sách đoàn kết dân tộc


    HP 46 : tất cả quyền bính trong nước là của nhân dân việt Nam ko phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo

    HP 59: Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc.
    Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Nhà nước có nhiệm vụ giữ gìn và phát triển sự đoàn kết giữa các dân tộc. Mọi hành vi khinh miệt, áp bức, chia rẽ dân tộc đều bị nghiêm cấm.
    Các dân tộc có quyền duy trì hoặc sửa đổi phong tục tập quán, dùng tiếng nói chữ viết, phát triển văn hoá dân tộc mình.
    Những địa phương có dân tộc thiểu số sống tập trung thì có thể thành lập khu vực tự trị. Khu vực tự trị là bộ phận không thể tách rời được của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
    Nhà nước ra sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số mau tiến kịp trình độ kinh tế và văn hoá chung.

    HP 80: Nhà nước bảo vệ, tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi miệt thị, chia rẽ dân tộc.
    Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.
    Nhà nước có kế hoạch xoá bỏ từng bước sự chênh lệch giữa các dân tộc về trình độ phát triển kinh tế và văn hoá.


    HP 92: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
    Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
    Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.
    Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

    Có thể thấy sự quy định đã rõ ràng hơn qua các bản Hiến pháp, từ một sự quy định chung chung về quyền quyết định của toàn dân trong HP 46 tới các quy định cụ thể trong các bản HP sau, đó là sự tiến bộ hay thụt lùi của Hiến pháp???

    5. Nhận định
    Càng về sau các bản Hiến pháp càng nói lên nhiều vấn đề, đó chỉ là quy định về một số tổ chức chính trị- xã hội sau này mới thành lập, và với nhiều người thì đây là một bước lùi khi mà không cần thiết phải đưa mấy tổ chức này vào Hiến pháp, vì hoàn toàn có thể sử dụng một Luật để quy định. Tôi đồng ý với quan điểm này.
    Kieu sim and (deleted user) like this.
  3. mickeylovebienxanh Well-Known Member

    Số bài viết:
    564
    Đã được thích:
    730
    Điểm thành tích:
    93
    Ðề: So sánh chế định về Chế độ chính trị qua 4 bản Hiến pháp

    Vai trò lãnh đạo của Đảng tuy không được chính thức khẳng định trong HP1946 nhưng được quy định "ngầm" thông qua việc quy định nhiệm vụ và quyền hạn rất lớn của Chủ tịch nước.
  4. tinkerman199 Mèo già

    Số bài viết:
    2,537
    Đã được thích:
    1,953
    Điểm thành tích:
    113
    Ðề: So sánh chế định về Chế độ chính trị qua 4 bản Hiến pháp

    anh ko đồng ý với mickey về điểm này.

    Quy định ngầm thì chẳng thể nói là quy định, mà chỉ nói là hiểu ngầm và thực hiện thôi.

    Quy định về Chủ tịch nước lúc đó thậm chí gần giống như là "chủ tịch lãnh đạo" hơn. Mà hiện nay thì còn đang tranh cãi là Bác Hồ hướng dân tộc ta đi theo con đường nào?
  5. mickeylovebienxanh Well-Known Member

    Số bài viết:
    564
    Đã được thích:
    730
    Điểm thành tích:
    93
    Ðề: So sánh chế định về Chế độ chính trị qua 4 bản Hiến pháp

    Hi, e thì e cũng tán đồng vs a ở chỗ là chưa nói ra thì coi như chưa có gì. Có điều, người lãnh đạo Đảng lúc bấy h, về thực chất chính là Bác. Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử - xã hội lúc bấy h, HP1946 trao cho Chủ tịch nước quyền lớn như vậy đâu phải trao vu vơ mà chính nhằm trao quyền cho cá - nhân - đó( chứ bây h mà trao quyền lớn như vậy cho Chủ tịch nước có mà loạn lên!), như vậy đương nhiên thừa nhận luôn sự lãnh đạo của Đảng còn gì.
  6. huongduong New Member

    Số bài viết:
    308
    Đã được thích:
    150
    Điểm thành tích:
    0
    Ðề: So sánh chế định về Chế độ chính trị qua 4 bản Hiến pháp

    "Hiến pháp 46 và 59 chưa quy định vì hoàn cảnh lịch sử khi nhà nước chưa là nhà nươc xã hội chủ nghĩa mà chỉ là nhà nước cộng hòa nhân dân"...?????????Câu này liệu đã chính xác???? Bây giờ Việt Nam đã là nước XHCN chưa nhỉ??????????
  7. cuncon Active Member

    Số bài viết:
    161
    Đã được thích:
    87
    Điểm thành tích:
    28
    Ðề: So sánh chế định về Chế độ chính trị qua 4 bản Hiến pháp

    Nói chung bản hiến pháp 1946 mang ý nghĩa tuyên ngôn là chính, chứng minh với Thế giới rằng VN "là 1 nước độc lập và sự thực là một quốc gia độc lập",còn các vấn đề khác quy định ra cho vui vì thông qua xong là cả bộ máy lên rừng hoạt động, trên thực tế Bộ chính trị vẫn là cơ quan cao nhất( đứng đầu là bác Hồ )vẫn quyết định đường hướng cho cách mạng VN.

    Hiểu 1 cách đơn giản khi chúng ta chưa nắm trong tay đất nước mà vẫn còn phải đấu tranh giành quyền tự quyết cho dân tộc thì Hiến pháp chỉ mang tính tuyên ngôn.

    Ở một nước 1 đảng lãnh đạo thì người đứng đầu Đảng vẫn là người có quyền lực số 1, thời bác vẫn còn ĐCS VN vẫn còn chức danh chủ tịch Đảng do bác nắm giữ...thời đó bí thư là bác Lê Duẩn

    Mình nghĩ chúng ta nếu phân tích về chế độ chính trị thì không nên nói nhiều về bản hiến pháp 1946 làm gì,có lẽ chỉ khi xem xét 1 cách hệ thống thì nên nghiên cứu nó, bản hiến pháp đầy đủ và đáng nghiên cứu nhất là HP 1992 sửa đổi năm 2001 và đang được nghiên cứu sửa tiếp...

    Biết đâu đấy khi chúng ta nói về sửa hiến pháp lại góp đc nhiều điều hay cho bản hiến pháp sắp tới.
    Kieu sim and (deleted user) like this.

Chia sẻ trang này